Các bệnh nhiễm trùng khi mang thai

Có những bệnh nhiễm trùng có thể gây tổn hại sức khỏe của bào thai. Loại được biết đến nhiều nhất là bệnh sởi Đức (German measles/rubella). Bệnh sởi Đức là một bệnh nhẹ nếu bị tiêm nhiễm vào thời thơ ấu nhưng, nếu nó tiệm nhiễm lúc bào thai được 16 tuần, có thể gây nguy hại cho bào thai. Nếu bạn đã có thai mà chưa bao giờ bị bệnh này hoặc chưa tiệm phòng chống lại bệnh sởi Đức, bạn nên tránh đừng tiếp xúc với những ai mắc bệnh hoặc bạn cần tiêm phòng sau khi sinh.

Bệnh cúm (influenza/the flu) cũng có thể gây tổn hại cho bào thai. Thật vậy, bất kì tình trạng thân nhiệt cao nào cũng có thể gây tai họa cho bào thai hoặc đưa đến việc đau để sớm. Nếu khi mang thai bạn bị sốt trên 38°, bạn cần gặp chuyên viên chăm sóc sức khỏe ngay.

Một số nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa những viêm nhiễm vi khuẩn ở người mẹ và việc sinh non. Trong trường hợp viêm nhiễm, bạn cần trao đổi với chuyên viên chăm sóc sức khỏe.

Sau đây là danh sách một phần những viêm…nhiễm khác có thể trở thành vấn để lúc mang thai.

AIDS. Hội chứng suy giảm miễn dịgh mắc phải (Acquired immunodeficiency syndrome) là một bệnh gây chết người. Một phụ nữ có thể bị nhiễm do quan hệ tinh dục với một bạn tình mắc bệnh, hoặc dùng chung kim chích khi chích thuốc vào tĩnh mạch, hay do truyền máu. Gần 25% các bé được các phụ nữ nhiễm HIV, virus gây bệnh AIDS, đã nhiễm HIV. Việc truyền HIV cho bào thai đã giảm rõ rệt (tới 8%) nếu người mẹ dùng thuốc kháng virus zidovudine (Retrovir, được biết như AZT) trong lúc mang thai. Bé mới sinh phải được dùng thuốc khoảng sáu tháng sau khi sinh. Nếu bạn bị nhiễm HIV, bạn. không nên nuôi con bằng sữa mẹ khi đưa con không nhiễm HIV; virus có thể truyền cho con qua sữa mẹ.

Nhiễm Cblamydia. Cblamydia tracbomaíz's là một vi khuẩn truyền qua đường sinh dục có thể gây viêm kết mạc,/bệnh đau mắt đỏ (conjunctixị'itis/pinkeye) và viêm phổi (’pneumonia) ở trẻ sơ sinh. Các bé bị tình trạng này được điều trị bằng các kháng sinh.

Bệnh lậu (Gonorrhea) là bệnh truyền qua đường sinh dục có thể làm nhiễm trùng mắt của bé. Bạn cần xét nghiệm để xem có bị bệnh lậu không nước và trong khi mang thai. Nếu mắc, bạn cần được chữa trị bằng kháng sinh.

Nhiễm khuẩn cầu chuỗi nhóm B (Group B Streptococcus-GBS) Vi khuẩn này là bộ phận của hệ thưc vật âm đụn vù có thể truyền từ mẹ qua con lúc sinh đẻ. Khoảng 5 đến 30% phụ nữ có giống vi khuẩn này trong âm đạo và/hay trong trực tràng, nhưng chỉ 1 tới 2 bé trong số 100 bé có mẹ bị i'mh hưởng phát triển thành viêm nhiễm. GBS tương đối vô hại chó người mẹ- mặc dù nó có liễn quan đến những cơn sốt sau khi sinh-nhưng nó có thể đe dọa sự sống của trẻ sơ sinh.

Một bé bị viêm nhiễm sẽ xuất hiện các triệu chứng trong 24 giờ sau khi sinh (bộc phát sớm) hoặc sau đó từ 1 đến 3 tháng (bộc phát trễ). Vấn đề nổi trội là chứng viêm màng não (metiingitis) cần được điều trị ngay bằng kháng sinh. Sự viêm nhiễm cho bé có thể được ngăn chặn nếu người mẹ nhiễm bệnh được điều trị bảng khác sinh lúc đau đẻ. Những nhân tố gây nguy co' bao gồm tình trạng vỡ nước ối nước khi sinh hơn 18 tiếng, sốt lúc đau đẻ, và sinh sớm.

Nếu lần sinh trước đã có đưa con bị viêm nhiễm thì đó cũng được coi là một nhân tố gây nguy cơ. Tỉ lệ nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh (neonutal sepsis) là 4/ 1000 trẻ sinh ra còn sống. Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh mắc chứng nhiễm trùng huyết này lên đến 50% trong các trường hợp sinh sớm, và 25% trong các trường hợp sinh đủ ngày tháng. Về lâu về dài, sự nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến tình trạng chậm phát triển trí tuệ và những bệnh tật nghiêm trọng. Một loại vắc xin mới được phát triển chích cho mẹ và trẻ sơ sinh để ngăn ngừa GBS đang được thử nghiệm nhưng chưa đưa vào sử dụng.

Viêm gan B (Hepatitis B) Virus viêm gan B có thể gây ảnh hưởng gan và được truyền đi giống như virus HIV. Viêm gan B có thế đi từ nhau thai qua bào thai hoặc truyền qua bé sau khi sinh qua sự tiếp xúc với người mẹ. Nếu bạn bị viêm gan B, tỉ lệ sinh non sẽ cao hơn. Nó còn làm suy gan hoặc dẫn đến tình trạng ung thư gan. Nếu bạn được chẩn đoán mắc viêm gan B, con bạn sẽ được chích kháng sinh sau khi sinh và bạn không nên cho con bú. Trẻ em và người lớn có các nhân tố có nguy cơ mắc bệnh đều được khuyên chích vắc xin viêm gan B.

Nhiễm virus Herpes đơn (Herpes simplex virus). Nếu bạn nhiễm herpes bộ phận sinh dục, bạn cần được thẩm trạ lúc đang đạu đẻ. Nếu đúng là bạn bị, bạn sẽ được khuyên nên sinh con bằng cách mổ thạy vì sinh qua âm đạo để tránh nhiễm qua bé./Ẹerpes bộ phận sinh dục có thể gây những biến trứng nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh. Thuốc kháng virus (antivirul mediczưion) có thể giúp ích cho bạn lúc mang thai, bạn nên trao đổi với chuyên viên chăm sóc sức khỏe.

Bệnh giang mai (Syphilis) Hiện nay ở Mỹ yêu cầu tất cả các phụ nữ mang thai đều phải xét nghiệm bệnh giang mai vào lần khám thai đầu tiên và vào 3 tháng cuối của thời kì mang thai. Nếu mắc bệnh, họ sẽ được chữa trị bằng penicillin ngay. Bệnh giang mai bẩm sinh gây chậm phát triển, đẻ non, và đẻ thai chết, cũng như những bất thường về xương, răng, và tai.

Các viêm nhiễm đường tiết niệu ( urinary tract infections). Gần 1% phụ nữ mang thai mắc chứng viêm bàng quang cấp tỉnh (acute cystitis). Đây là một trong những rắc rối thường gặp lúc mang thai. Những viêm nhiễm này có thể được điều trị bằng kháng sinh. Nếu không được chữa trị có thể bị đau để sớm.

Bệnh T oxoplasma (Toxoplasmosis) Bệnh có thể bị tiệm nhiễm do hít thở phải phân mèo nhiễm bệnh hoặc ăn thịt, cá nấu chưa chín. Tỉ lệ lây nhiễm cho bé là 1/800 tới 1/1.400. Những iệu chứng của bệnh này thường nhẹ.

Bệnh Thứ Năm/viêm nhiễm virus có kích thước nhỏ (Fifth disẹaSe/parvwirus infection) Virus có kích thước nhỏ B19 (B19 parvovirus) gây viêm nhiễm virus (cơ thể thường xảy ra vào những lúc có dịch bệnh (epidemics). Những triệu chứng của sự viêm nhiễm, cũng được gọi là bệnh fifth, bao gồm tình trạng khó chịu, nhức đầu, phát ban, và hơi sốt. Theo báo cáo, thời kì mang thai dễ bị tình trạng sẩy thai và một điều kiện nghiêm trọng được gọi là thai tích dịch (fetal hydrops/hydrops foetalis) do bị sưng quá mức vì tác động của virus trên hồng huyết cầu. Chứng viêm nhiễm này gây cho trẻ bệnh tình hồng nhiệt (scarlet fever) nhưng không sốt cao.

Nội dung liên quan đến mang thai:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét