Những căn bệnh thường gặp ở tuổi dưới 13

Việc trẻ đau ốm làm sao tránh được. Việc gìn giữ con cái mạnh khỏe là điều vô cùng giá trị, nhưng cũng làm sao tránh khỏi những lúc con bị cảm lạnh, cúm, những lần bị nôn mửa, ĩa chảy, và nóng sốt. Phần này sẽ trao đổi với các bạn nhiều triệu chứng con bạn trải qua mỗi khi ốm đau và chỉ cho bạn biết các cách làm giảm nhẹ tác động của những tình trạng ấy, giúp con bạn mau bình phục.

Mặc dầu ở đây chỉ phác thảo những hướng dẫn tổng quát là khi nào bạn cần gọi bác sĩ, nhưng chẳng gì hơn là bạn nên gọi bác sĩ khi nào bạn cảm thấy cần, đừng sợ mang tiếng là người động tí đã quýnh lên.

Sau đây là những bệnh thường gặp ở giai đoạn thiếu thời này, bao gồm các triệu chứng và sự mô tả ngắn về diễn biến của bệnh, cùng sự tham khảo chéo ở những chương bạn có thể tìm thấy những chi tiết đầy đủ hơn.

Viêm tiểu phế quản (broncholitis) Một viêm nhiễm virus cấp tính phần dưới đường hô hấp, viêm tiểu phế quản hầu như là căn bệnh riêng của trẻ dưới 2 tuổi, nhất là khoảng thời gian từ 2 đến 8 tháng. Trẻ bị viêm tiểu phế quân có những triệu chứng lúc đầu như bị cảm lạnh, sau đó sinh ra ho; thở khò khè; thở gấp và không sâu; sốt. Nếu viêm nặng trẻ thở rất nhanh, mặt có thể tái xanh, phổi hầu như không giãn ra đủ lúc thở. Những biến chứng nguy hiểm nhất là suy hô hấp và viêm phổi. Bạn cần đưa bé đi bác sĩ nguy .

Bệnh thủy đậu (chickenpox) Bệnh do nhiễm virus varicella-zoster thuộc họ herpes thường bắt đầu bằng cơn sốt ( dù một số trường hợp sốt không đáng kế hoặc không nhận ra) và sổ mũi, rồi nổi từng cụm mụn đỏ ngứa ngáy và làm dộp da nhanh, sau đó vỡ ra làm đau nhức. Lúc đầu thường nổi ở mép mái tóc quanh mặt, sau đó xuống ngực, bụng, và lưng, cũng có thể lan khắp từ đầu đến ngón chân, kể cả bên trong miệng. Bệnh này là loại bệnh lây, nên cho trẻ nghỉ học cho đến khi khỏi hẳn. Bệnh thủy đậu có thể làm chết người đối với những ai bị ức chế miễn dịch ( immunosuppressed), cẩn chữa trị sớm bao nhiêu có thể .

Trẻ bị bệnh này không thể cho uống aspirin vì có thể dẫn đến hội chứng Reye

Viêm kết mạc/Bệnh đỏ mắt (conjunctivitis/pink eye) là chứng viêm các mô bảo vệ bề mặt của mắt và bên trong mí mắt. Các triệu chứng của viêm kết mục bao gồm có vảy đóng cứng hoặc mủ trong mắt chảy ra, mắt bị đó. Cả chứng viêm kết mạc do vi khuẩn và do viêm đều lây. Cẩn cách li trẻ cho đến khi khỏi hẳn (xem thêm chương mười lăm).

Bệnh bạch bầu thanh quản (croup) hay viêm thanh khi quân cấp tỉnh (acute laryn- gotracheitis) do các virus đường hô hấp gây ra và thường xảy ra ở trẻ em, nhất là từ 1 đến 3 tuổi. Đặc điểm của bệnh là ho khẩn tiếng và khô khê; cũng về tối bệnh cũng trở nặng. Phần lớn trẻ mắc bệnh này có thể khôi dân mà không cẩn thuốc, nhưng cũng có những trường hợp nặng khiến trẻ không thể thở được. Một số chứng viêm nhiễm do vi khuẩn (như viêm phổi, viêm khí quân do vi khuẩn (bacte- rial tracheitis), và viêm tiểu thiệt (epiglottitis)) có thể giống như bệnh viêm bạch hầu thanh quản. Cẩn gọi bác sĩ nếu con bạn sốt cao và thở khò khê, nhất là khi ho còn chảy cả mũi dãi, thở khó khăn hoặc mệt.

Viêm tai/Viêm tai giữa (car infection/oti- tis media) ở trẻ, các chứng viêm tai giữa thường theo sau những viêm nhiễm hô hấp do vi khuẩn hay virus gây ra. Các triệu chứng gồm bứt rứt, đau dữ dội bên trong tai do nước tích ở tai giữa gây ra bởi bị tắc vòi Eustache. Cho trẻ uống acetaminophen có thể làm bớt nhức, và sau đó bác sĩ điều trị bằng các loại kháng sinh. Viêm tai không phải chứng bệnh lây.

Bị viêm tai phải làm sao?
Bị viêm tai phải làm sao?

Bệnh thứ năm/Sốt ban đỏ (Fifth disease/ erythema infectiosum) bệnh do loại virus 819 có kích thước nhỏ (parvovirus Bl9) gây ra, khởi đầu bằng 2 hay 3 ngày sốt, đau nhức cơ, nhức đầu, và khó chịu. Nguyên nhân trở nên rõ ràng vào ngày thứ 7 đến thứ 10 sau khi trẻ phát ban. Nó bắt đầu với chỗ phát ban nóng đỏ trên hai mà rồi lan tới thân mình và tứ chỉ, các mảng ban giống như ren, hơi mấp mô, xuất hiện rồi lại mất đi, trẻ hiếm khi xảy ra đau khớp nhưng cũng có thể xảy ra từ 1 đến 10 ngày sau khi phát ban. Trẻ mắc bệnh này chỉ lấy trước khi ban phát ra, vì thể trẻ phát ban vẫn có thể đi học. Bất cứ sản phụ nào tiếp xúc với trẻ trong giai đoạn lây bệnh cần lưu ý vì bệnh này có thể nguy hại đến sự phát triển của bào thai.

Viêm dạ dày ruột (gastroenteritis) Thường được gọi là cúm dạ dày (stomach flu) và thường do virus gây ra, đặc điểm của viêm nhiễm này là gây nôn mửa hoặc vừa ĩa chảy vừa nôn mửa. Nó cũng có thể do các độc tố của vi khuẩn hay viêm nhiễm, đôi khi do ăn phải thực phẩm hoặc uống phải nước không sạch. Vì ĩa chảy và nôn mửa nên bị tình trạng mất nước rất nguy hiểm, nhất là ở trẻ còn nhỏ do quá ốm đau mà lười uống nước. Nếu hai mắt trẻ trũng xuống, miệng khô, hoặc ít đi tiểu, nên đưa trẻ đi bác sĩ. Nếu có những cơn co thắt hay đau bụng nặng, cần trao đổi với bác sĩ để loại trừ những nguyên nhân nguy hiểm khác. Chứng viêm này thường lây nên cho bé nghỉ học cho đến khi hết các triệu chứng. Rửa tay sạch là một cách giảm sự lây lan (xem phần liệu pháp bồi hoàn nước điện giải ở chương tám và viêm dạ dày-ruột ở chương hai mốt để nắm thêm).

Chốc lở (impetigo) Đây là một chứng phát ban gây ngứa ngáy, khó chịu, và có vảy cứng do viêm nhiễm da bởi vi khuẩn hình cầu staphyloccocus hay khuẩn cẩu chuỗi streptoccocus. Vi khuẩn đi vào da sau khi bị một vết chích của côn trùng hoặc một vết thưong nhỏ. Chốc lở_thường xảy ra vào mùa xuân ấm áp và các tháng hè. Nó có thể có những chỗ bị rộp hay không (xem hình màu trung C-34) Những chỗ giộp này có thể lớn, ngứa, tạo thành các vây có màu hổ phách chuyển dần sang màu đen. Đưa bé đi bác sĩ. Khi được điều trị đúng cách, chứng này sẽ hết trong vòng một tuần. Chốc lở là một chứng lây, cần cho trẻ nghỉ học (xem thêm chương hai tấm).

Cúm (influenza) Do virus gây ra, cúm có khả năng trở thành nguy hiểm, nhưng thường hết sau một tuần với những triệu chứng khó chịu như sốt, nhức đầu, đau họng, ho, và đau cơ (Xem thêm chương mười tám). Vi virus cúm thay đổi nhanh, mỗi năm đều có vắc xin mới, nhưng thường những trẻ mắc bệnh cúm gây thêm những bệnh khác mới cần phải tiêm phòng. Mùa cúm thường kéo từ mùa đông đến đầu xuân. Cúm là một bệnh lây, nên cho bé nghỉ học.

Trẻ bị cúm không nên cho uống aspirin vì có thể dẫn đến hội chứng Reye. Có những viêm nhiễm virus hay vi khuẩn khác bị lầm với cúm vì chúng có cùng những triệu chứng.

Viêm phổi (Pneumonia) Gây ra bởi nhiễm virus hay vi khuẩn ở phổi. Những triệu chứng gồm thường sốt cao, ho nặng, thở nhanh và khó (xem thêm ở chương mười tám). Cẩn đưa bé đi bác sĩ.

Ban đào ở trẻ (roseola infantum) Chủ yếu ở trẻ dưới 2 tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra cho các trẻ lớn hơn. Bệnh do virus này thường làm sốt cao vài ngày kèm theo phát ban thoáng qua ở ngực và lưng khi phát sốt.

Viêm họng do khuẩn cầu chuỗi (strep throat) là chứng viêm hạch hanh nhân và cổ họng do khuẩn cầu chuỗi nhóm A gây ra, thường xuất hiện vào giữa đông và đầu xuân. Chứng viêm này thường kèm theo sốt. Còn có những triệu chứng khác là nhức đầu, đau bụng, nôn mửa, hoặc cảm giác buồn nôn. Trẻ còn có thể bị sưng các tuyến ở cổ, có khi còn 1 phát ban nham nháp và đỏ. Bệnh này có khi còn đươc gọi là bệnh tình hồng nhiệt (scarlet fever). Nếu không chữa trị có thể dẫn đến sốt thấp khớp (rheumatic fever) gây tổn hại tim. Bệnh này cần điều trị ngay. Và đây là một chứng viêm lây, cần cho trẻ nghỉ học.

Những viêm nhiễm phần trên đường hô bấp (upper respiratory infections) Thường được gọi là những chứng cảm lạnh, do virus gây ra, có đặc điểm là nghẹt mũi (nasal confestion),ho, đau họng, hắt hơi, mất có nước và ngứa, thường kèm theo sốt nhẹ. Những chứng này giảm dân sau 2, 3 ngày, riêng ho có thể kéo dài hơn, nhiều khi đến hàng tuần. Nếu những triệu chứng này dai dẳng vả ngày càng trở nặng hơn cần đưa trẻ đi bác sĩ.

Viêm nhiễm đường hô hấp gây nhiều bất tiện cho cuộc sống
Viêm nhiễm đường hô hấp gây nhiều bất tiện cho cuộc sống

Viêm đường tiết niệu (urinary tract infection) ở trẻ chứng này ít khi làm sốt nhưng trẻ thường đi tiểu luôn và tiểu buốt. Nước tiểu có mùi, vẩn dục hoặc có máu. Viêm đường tiết niệu còn đi kèm chứng đau ở dạ dày, phần dưới bụng hay chứng đau lưng (xem chứng viêm bàng quang chương hai bốn). VÌ chứng viêm đựờng tiết niệu có thể gây viêm thận là chứng viêm nguy hiểm hơn, nên bạn cần chữa trị cho trẻ.

Những chúng viêm nhiễm khác ở tuổi thiểu thời. Bệnh sởi (measles), quai bị (mumps), sởi Đức, và những bệnh khác mà tất cả các trẻ đều cần tiêm phòng nữa (trừ bệnh thủy đậu) không được để cập đến ở phần này. Nếu bạn sao nhăng việc tiêm phòng cho trẻ và nghi ngờ trẻ mắc một trong những chứng bệnh này, bạn hãy xem chương hai một để biết thêm thông tin và cẩn gặp bác sĩ ngay.

Nội dung liên quan đến trẻ tuổi dưới 13:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét