Những chuẩn đoán và xét nghiệm trước khi sinh

Ngày nay có nhiều loại xét nghiệm sẵn có giúp bác sĩ kiểm tra sức khỏe của bạn và của bào thui mà không lo có nguy cơ cho thai.

Siêu âm (Ultrasounđ/Sonogram) Đây là loại xét nghiệm không xâm nhập (vào cơ thể) được dùng phổ biến nhất và được sử dụng rất sớm trong thời kì mang thai để xác định vị trí, kích cỡ, và sổ bào thai. Dùng siêu âm có thể nhìn rõ bao thai ngay từ lúc được 6 tuần. Việc xác định ngày mang thai cũng rất chính xác khi siêu âm trước tuần thứ 20.

Chọc dò màng ối qua bụng (Amniocentisis) Đây là loại xét nghiệm cần xâm nhập được dùng để chẩn đoán nhiều tình trạng. Nó thường được dùng nhiều nhất để xác định bạn đang mang thai có mắc một bất thường về nhiễm sắc thể như hội chứng Down.

Chọc dò màng ối thường được thực hiện khoảng tuần thứ 15 đến 18, tháng thứ 4 và thứ 5 của thời kì mang thai. Các phụ nữ mang thai lúc ngoài 35 tuổi, những phụ nữ có tiền sử gia đinh có những bất thường về di truyền, hay những phụ nữ sinh con bất thường trong kì sinh trước thường được khuyên xét nghiệm loại này. Nhưng nay nó là loại xét nghiệm thường được dùng trước khi sinh.

Những chuẩn đoán và xét nghiệm trước khi sinh

Lấy mẫu nhung mao màng đệm (Chori- onic villi sampling-CVS) Đây là loại xét nghiệm được dùng thay xét nghiệm chọc dò măng ối qua bụng. Xét nghiệm này có thể phát hiện những bất thường về nhiễm sắc và những bất thường di truyền khác và có thể thực hiện sớm hơn (từ 10 đến 12 tuần).

Những mao màng đệm là những cái hơi nhỏ ra gắn với mảng đệm (chorion), một màng sau này trở thành phần rau thai sát nhất với bé. Việc lấy mẫu có thể bằng cách đưa một que thăm qua cổ tử cung, hoặc dùng cây kim đưa qua bụng như chọc dò màng ối.

CVS cung cấp những thông tin giống như chọc dò màng ối về những bất thường của nhiễm sắc để, trừ những khuyết tật về ống thần kinh, việc này phải qua phân tích alpha- fetoprotein sau đó vài tuần. Nguy cơ gây sẩy thai của CVS cao hơn chọc dò màng ối, nhưng nếu được làm cẩn thận, nguy cơ này sẽ giảm. Sau 10 đến 14 ngày sẽ có kết quâ'xét nghiệm.

Lấy mẫu nhung mao màng đệm có thể được thực hiện sớm hơn chọc dò màng ối. Một que thăm hay cây kim được đưa vào tử cung để thu mẫu từ nhau thai.

Phân tích Alpha-fetoproteỉn/leỉểm tra bộ ba (Alpha-fetoprotein/Triple screen) Việc phân tích alpha-fetoprotein là một xét nghiệm máu có thể là phương tiện để phát hiện những khuyết tật trong hệ thần kinh. Xét nghiệm này được thực hiện trên máu người mẹ mà không gây nguy cơ gì cho bào thai; vì thế phần lớn các bác sĩ áp dụng nó cho tất cả các phụ nữ mang thai vào tuần thứ 16 của thời kì mang thai. Xét nghiệm này không phải phép chẩn đoán; nó đơn thuẫn cho biết về nguy cơ.

Những chuẩn đoán và xét nghiệm trước khi sinh

Alpha-fetoprotein là chất do bào thai sản sinh ra. Trong những trường hợp mang thai bình thường chỉ một lượng nhỏ chất này đi qua rau thai vào máu của người mẹ. Nhưng trong những trường hợp có một khuyết điểm ở lớp vỏ bào thai, máu của người mẹ sẽ có lượng alpha- fiestprotein lớn hơn. Những khuyết tật ống thần kinh, như tật nứt đốt sống, thì hiếm, tỉ lệ xây ra khoảng 1 đến 2 trường hợp trong 1.000 trường hợp. Các trường hợp có mức alpha-fetoprotein cao thường là do mang thai song sinh hay do bào thai già ngày hơn chẩn đoán trước đó. Nếu mức alpha-fetoprotein cao, lúc ấy cẩn siêu âm; và nếu siêu âm không phát hiện được sự bất thường, người ta sẽ tiến hành chọc dò màng ối. Mức alpha-fetoprotein thấp bất thường trong máu người mẹ liên quan đến những bất thường về nhiễm sắc thể của bào thai. Khi xét nghiệm alpha-fetprotein được phối hợp với hai xét nghiệm khác (xét nghiệm tìm human chorionic gonadotropin-HCG và estriol-kiểm tra bộ ba), một nguy cơ về sự bất thường của nhiễm sắc thể được định vị, sau đó chọc dò màng ối để chẩn đoán.

Lấy mẫu máu bào thai (Fetal blood sampling) Lấy mẫu máu bào thai dưới da là lấy máu từ dây rốn (umbilical cord) hay tĩnh mạch trong gan (intrahepatic vein) để xét nghiệm các rối loạn. Xét nghiệm này được thực hiện vào tháng thứ 6 hoặc 3 tháng cuối của thời kì mang thai và có thể được dùng để chẩn đoán những bất thường về nhiễm sắc thể, bệnh huyết hữu/bệnh chảy máu khó đông và những thiếu hụt đạm máu (blood protein deficits) khác, bệnh thiếu máu do hồng cầu liềm (sickle-cell anemia), bệnh thiếu máu vùng biển/bệnh thiếu máu Cooley (thalassemia/Cooley’s anemia), và chứng giảm tiểu huyết cấu (thrombocytopenia/low number of platelets) Nó cũng có_ thể phát hiện các kháng thể kháng lại những tác nhân lây nhiễm như cytomegalovirus và Toxoplasma.

Sự gây miễn dịch đồng loại (isoimmunization) hay tính bất tương hợp (incompatibility) của nhân tố Rheus có thể xảy ra khi người phụ nữ có Rh âm tính (Rh negative) mang thai có Rh dương tính (Rh positive). Điều này có thể xảy ra khi cha của bé có Rh dương tính. Khi máu của bào thai Rh dương tính hòa với máu của người mẹ Rh âm tinh, màu của người mẹ phát triển các kháng thể tấn công các hồng huyết cầu của bào thai. Sự gây miễn dịch đồng loại thường không xảy ra trong các trường hợp mang thai lần đầu; tuy vậy, nếu bạn đã có lần bị sẩy thai hoặc phá/nạo thai trước đó mà bạn lại có Rh âm tính, bạn có thể đã bị nhạy cảm, có nghĩa là bạn đã phát triển các kháng thể.

Trước đây, sự gây miễn dịch đồng loại là một nguyên nhân chính gây tử vong cho bào thai hay trẻ sơ sinh. Nhưng nhờ khám phá và sử dụng anti-D immune globulin (RhoGAM) đã làm cho khoa sản có được những tiến bộ lớn trong những thập niên gần đây. Hiện nay, tất cả các phụ nữ mang thai và cả người cha đều được xét nghiệm Rh. Nếu máu của người cha là Rh dương tính, máu người mẹ là Rh âm tính, người mẹ sẽ được chích Rh immune globulin khi mang thai được 28 tuần để ngăn chặn tình trạng gây miễn dịch đồng loại. Tất cả các phụ nữ mang thai-hay có dự định mang thai-đều được kiểm tra tình trạng Rh và kháng thể. Rh immune globulin sẽ được đưa vào sớm hơn, trước khi thực hiện các xét nghiệm khác, chọc dò màng ối, lấy mẫu nhung mao màng đệm..., hoặc có tình trạng xuất huyết xảy ra.

Nội dung liên quan đến mang thai:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét