Trẻ sơ sinh bị thiếu cân

Những bé sinh nặng dưới 2,5kg thường (nhưng không phải luôn luôn) là do sinh non. Những vấn đề thường thấy ở trẻ sinh thiếu cân gồm

Bệnh vàng da

Trẻ sinh thiếu cân thường bị bệnh vàng da hơn những trẻ sinh đủ ngày tháng. (xem phần bệnh vàng da).

Hoại tử ruột đại tràng (necrotizing enterocolitis)

Bệnh đường ruột bao gồm sự thương tổn mô ruột. Đây là trường hợp nguy cấp về đường tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ. Nó được chẩn đoán trong vòng 20 ngày đầu sau khi sinh. Những triệu chứng bao gồm nôn mửa, phân có máu, bụng sưng, mệt mỏi và thở yếu. Những bé bị bệnh này thường phải nuôi bằng truyền dịch và chữa bằng kháng sinh. Những trường hợp bệnh trở nặng có thể phải mổ.

Chứng ngừng thở (apnea)

Đó là chứng ngừng thở từng lúc. Mặc dầu trẻ sơ sinh thường có những lúc ngừng thở, nhưng ở trẻ sinh non hay để thiếu cản, sự ngừng thở này thường xảy ra hơn. Nếu thời gian ngừng thở của một bé kéo dài hơn 15 giây, bé đó được coi là mắc chứng ngừng thở, liên quan đến chứng nhịp tim chậm (bradycardia). Lúc ấy trẻ cần được giám Isa't hô hấp bằng máy và cần làm một số xét nghiệm.

Chứng loạn sản phế quản-phổi (bronchopulmonary dysgplasia-BPD)

Đây là một dạng bệnh phổi mạn tính thường hay xảy ra nơi những bé sinh thiếu cân do phổi chưa trưởng thành. Trẻ bị chứng này lên cân chậm và dễ mắc chứng ngừng thở. Cần đề phòng tránh viêm nhiễm đường hô hấp vì có thể dẫn đến suy hô hấp (respiratery failure). Một số trẻ này cần thờ bằng oxy hoặc điều trị bằng thuốc. Tình trạng này sẽ được cải thiện dân khi phổi đạt mức trưởng thành đủ.

Chứng giảm glucose-huyết

Những hậu quả của chứng giảm glucose-huyết, hay thấp đường huyết, có thể nặng ở những trẻ sinh thiếu cân. Nếu không điều trị, chứng này có thể gây những cơn tai biến ngập máu (seizure), tổn thương não, hay cả hai.

Bệnh võng mạc do đẻ non (retinopathy of prematurity-ROP)

Trước đây nó được gọi là chứng tạo xơ phía sau thủy tinh thể (retrolental fibroplasia), là một rối loạn mắt thường thấy ở trẻ đẻ non. Tỉ lệ mắc bệnh khoảng 5% ở những trẻ đẻ non. Nhiều nhân tố góp phần gây nên bệnh, nhưng nhân tố quan trọng nhất vẫn là do đẻ non. Đứa bé càng nhỏ bao nhiêu, nguy cơ càng cao bấy nhiêu. Bệnh có thể tạo sẹo và/hoặc làm méo mó võng mạc (retina), một nguy cơ cao của tật cận thị (myopia/nearsightedness), chứng giám thị lực (amblyopia/wandering eye), và mù. Nên dưa trẻ đi bác sĩ nhân khoa thuộc khoa nhỉ để điều trị bằng phẫu thuật bằng tia la de để triệt phá những mạch máu thửa trong mắt ngăn ngứa mắt bị mù.

Xuất huyết trong não thất (intraventricular hemorrhage)

Một thiểu số trẻ đẻ non bị chứng xuất huyết não thất trong 72 giờ đầu sau khi sinh. Nếu xuất huyết nặng có thể bị tràn dịch não (hydrocephalus) và những bất thường phát triển ở thần kinh gồm chứng liệt não (cerebral palsy), chậm phát triển trí tuệ, và mất khả năng học hành.

Ống động mạch không đóng/mỡ (patent ductus arteriosus)

Ống động mạch mộ (một mạch máu của bào thai gần tim) nối trực tiếp động mạch phối với động mạch chủ lớn. Ong này thường đóng lại sau khi sinh, nhưng có tới 15 đến 35% trẻ sinh thiếu cân không đóng kịp ống này. Nơi phần lớn trường hợp, không có các triệu chứng trừ ra thỉnh thoảng gây thở ngắn, nhưng nếu không được điều trị có thể dẫn đến suy tim (heart failure). Điều trị bằng indomethacin, một loại thuốc kháng prostaglandin, thường có thể đóng được ống. Đôi trường hợp cần phẫu thuật.

Nội dung liên quan đến trẻ nhỏ:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét