Mổ để sinh

Mổ để sinh (ceszuean section/C-section) là cách đưa bé ra qua đường rạch trên thành bụng và thành tử cung. ’l`rước đây việc này được miêu tả trong thần thoại Hy Lạp và ở các bức vẽ trong hang động tại Châu Phi, những ca mổ sinh đầu tiên mãi đến giữa những năm 1800 mới thành công, nhưng bước qua thế kỉ XX phương pháp này mới phổ biến. Giờ đây, tỉ lệ sinh bằng cách mổ tại các bệnh viện là khoảng 20 đến 25%.


Có một thời, việc sinh con bằng cách mổ tăng vọt (những năm thập niên 1970, tỉ lệ này tăng gấp ba tại Mỹ) vì người ta cho rằng nó giảm tử vong cho cả con và mẹ. Nhưng hiện nay tỉ lệ này đang giảm và người ta chỉ áp dụng nó vào những trường hợp cần cho sự an toàn nhất của cả con và mẹ:

  • Khi bị viêm nhiễm herpes. Nếu bạn bị viêm nhiễm herpes, bệnh mụn giộp bộ phận sinh dục, trong khoảng 4 tuần trước ngày sinh, bác sĩ sẽ đề nghị bạn sinh bằng cách mổ để tránh những hậu quả nghiêm trọng cho bé, kể cả tổn hại nào.
  • Rau tiền đạo. Rau che hoàn toàn hay một phần lỗ cổ tử cung, nên nếu sinh bằng đường âm đạo có thể gây xuất huyết nặng và có thể chết thui.
  • Tách rau thai sớm. Có thể làm bé bị ngạt vì thiếu oxy.
  • Hẹp vùng đầu xương chậu (,cephulopelvic dispropontion-CPD). Nếu đầu bé quá lớn sẽ không đi qua khung xương chậu của người mẹ an toàn trong lúc sinh.
  • Thai quá lớn (macrosomiu). Tức thui cân nặng trên dưới 5kg lúc sinh. Trường hợp này thường xảy ra ở những phụ nữ bị bệnh đái tháo đường thời kì thai nghén mà không được chữa trị. Nếu siêu âm xác định thai quá lớn và bạn còn 2 tuần nữa là đến ngày sinh, bác sĩ đề nghị mổ để lấy thai ra.
  • Chứng tiên sản giật và sản giật. Bác sĩ sẽ khuyên mổ để sinh nếu không thấy người mẹ trở dụ để hoặc tim của bé có vấn để.
  • Dây rốn sa xuống. Trường hợp dây rốn sa vào trong cổ tử cung và âm đạo làm cản trở việc cung cấp máu cho bé, bác sĩ cũng đề nghị mổ để sinh.
  • Sinh trễ. Nếu mang thai trễ hơn bình thường ngoài 2 tuần, tất nhiên bào thai sẽ lớn hơn, lúc ấy bác sĩ đề nghị biện pháp thúc trở dạ hoặc mổ để lấy thai.
  • Sinh nhiều con. Tỉ lệ sinh bằng cách mổ trong các trường hợp song sinh là 5%, còn sinh từ ba trở lên, thường đều cần mổ để lấy thai ra.

Bác sĩ sẽ tiến hành mổ sau khi đưa ống thông tiểu vào bàng quang và cho truyền dịch trong lúc mổ, vệ sinh phẩn vùng chung quanh, gây tê hoặc gây mê tùy trường hợp. Cách gây tê vùng ngoài mùng cứng thường được áp dụng, vì nó có thẻ điêu chính liêu lượng lúc đang tiên hành mổ.

Trước hết bác sĩ rạch qua thành bụng. Hiện nạy thường rạch ngang, ngay trên phần lông mu. Cũng có khi bác sĩ rạch theo chiều thẳng đứng ngay giữa bụng, từ rốn đến xương mu. Khi bụng đã mở ra, bác sĩ tiếp tục tiến hành rạch tử cung, thường theo chiều ngang, để đưa bé ra. Việc rạch đọc hay ngang tử cung là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc sinh bằng đường âm đạo sau này.

Khi bé và nhau thai đã được đưa ra,tử cung được khấu lại, sau đó khép ổ bụng bằng cách khấu hay kẹp bằng kim loại (metal clips). Sau khi mặc quần áo lại, bạn có thể bế và cho con bú. Cho con bú ngay là điều thật quan trọng và giúp bạn tỉnh sau ca mổ.

Lúc năm ở phòng hồi sức, bạn được kiểm tra huyết áp và việc hô hấp, và theo dõi bất kì sự xuất huyết quá mức nào.

Bạn càng sớm trỗi dậy và đi lại sau ca mổ, bạn cũng mau bình phục. Những cơn đau và sự khó chịu có thể kéo dài vài ngày. Bạn sẽ nằm lại bệnh viện khoảng 5 ngày rồi về nhà an toàn.

Khoảng 4 đến 6 tuần sau bạn có thể làm các việc bình thường.

Việc mổ để sinh không cản trở việc nuôi con bằng sữa mẹ và không trở ngại việc sinh bình thường vào những lần sinh sau nếu đường rạch tử cung nằm ngang.

Nội dung liên quan đến mang thai:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét