Chứng mất trí ở người cao tuổi

Khi lớn tuổi, phần lớn chúng ta trải qua những lúc bỗng bị quên và ít nhiều suy giảm khả năng học tập hoặc đáp ứng nhanh. Những thay đổi này thường phát triển mà không thể nhận thấy, chỉ còn cách học cách ứng phó với chúng khi chúng xảy ra. Chứng quên thật sự là một sự quá trình sút giảm toàn cục liên quan đến chức năng nhận thức (suy nghĩ và trí nhớ). Nhiều người bị chứng này cuối cùng không còn tự chăm sóc cho bản thân.

Còn nhiều điều cần nghiên cứu về những nguyên nhân và những cách điều trị khả dĩ về những rối loạn gây ra chứng quên, như bệnh Alzheimer…Có điều giờ đây chúng ta có nhiều hy vọng hơn trước đây vì có thể phát hiện chứng quên trước khi nó trở nặng. Những nguyên nhân gây ra chứng quên có thể đảo ngược được-như chứng trầm cảm hoặc những rối loạn chuyển hóa-có thể được nhận dạng và điều trị từng bước, riêng tác động lâu dài của chứng quên thì chưa có thuốc điều trị.

Người có tuổi còn bị những dụng suy giảm chức năng nhận thức thoáng qua. Tình trạng này được gọi là chứng mê sảng (delirium) và có thể là do thuốc, bệnh và những nguyên nhân khác.

Có nhiều nguyên nhân khả thể của chứng quên, bao gồm:

  • Bệnh não bị thoái hóa, tăng dân, như bệnh Alzheimer (xem thêm chương mười bốn).
  • Các chứng đột quỵ nhỏ và bị nhiều lần khiến những phần nào bị thương tổn.
  • Ảnh hưởng các độc tố, như rượu và thuốc (bao gồm cả việc dùng pha trộn nhiều loại thuốc chữa bệnh).
  • Những mất cân bằng chuyển hóa, như những chứng gây ra do thiếu một loại vitamin (B12 chẳng hạn) hay bệnh về tuyến giáp (thyroid disease).
  • Những viêm nhiễm hệ thần kinh trung 'ưohg gây ra do virus herpes, do HIV, hay bệnh giang mai thần kinh (neurosyphilis),đây là bệnh tuy hiếm nhưng thường thấy ở người cao tuổi hơn là AIDS, vì bệnh giang mai có thể không có triệu chứng bệnh và tiềm ẩn hàng thập niên.
  • Còn nhiều nguyên nhân khác như sự tổn thương đầu, ổ tụ huyết dưới màng cứng (subdural hematoma) gây xuất huyết giữa não và màng bao quanh não, những u não, ung thư di căn Qmetastatic cnncer), và những bệnh khác (xem thêm chương mười bốn).
  • Chứng trầm cảm có liên quan đến sự suy giảm trí nhớ tạm thời nhưng không quá nặng.
Chứng mê sảng. Dù nó giống như chứng quên, nhưng mê sảng là một dụng rối loạn tâm thần chóng qua có đặc điểm là gây lẫn lộn. Nó được phân biệt với chứng quên thực sự là nó bột phát, tiến trình dao động, và thường mau qua, chỉ chừng vài tiếng đến vài ngày. Chứng quên thực sự khởi phát từ tử qua nhiều tháng hay nhiều năm và thường tăng dân.

Chứng mê sảng khởi phát gần giống một bệnh-bao gồm sốt, nhiễm độc, giâm huyết áp (hypotension), máu thiếu oxy-có thể đủ làm mất quân bình các hóa chất trong não để gây ra mê sảng.

Chứng mê sảng còn có thể do ảnh hưởng các độc tố, như dùng liều thuốc sai hoặc dùng sai thuốc. Nhưng có cả những trường hợp uống đúng thuốc và đúng liều vẫn có thể gây những nhiễu loạn về hóa tính trong não có thể dẫn đến mê sảng Chứng mê sảng là chứng thường gặp, và thường gặp hơn cả ở những bệnh nhân tâm thần mắc thêm một chứng bệnh tiềm ẩn như bệnh phổi, nhồi máu cơ tim (myocarclial infatretion).


Bệnh Alzbeimer. Chi chung tất cả những rối loạn gây ra chứng quên, nhưng có lẽ chưa a. hiểu rõ về bệnh Alzheimer, một chứng bệnh thường gặp nhiều nhất ở những người cao tuổi, khoảng 50 đến 85%. Một số ước tính cho răng có đến 50% những người ngoài 85 tuổi mắc một rối loạn về chứng quên. Riêng bệnh Alzheimer, khoảng 2% rơi vào lứa tuổi 65, và cứ thêm từng 5 tuổi một thì tỉ lệ này tăng gấp đôi, và ở tuổi 85 tỉ lệ này là 32%.

Ở những giai đoạn đầu, bệnh này ít khi được nhận ra. Cả bệnh nhân và bác sĩ thường cho là do tuổi tác. Những phương pháp điều trị mới hy vọng với sự phát hiện sớm có thể trì hoãn sự khởi phát của những hậu quả nghiêm trọng nhất. Nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh có thời gian âm i là 10, 15, và có khi 30 năm, thời gian não suy yếu chậm những tăng dân. Một trong những loại thuốc mới gần đây chứng tỏ có thể giúp những vấn đề về trí nhớ là donepezil hydrochlorid, tên thương mại là Aricept, và sẽ còn vài loại thuốc mới nữa trong vài năm tới đây.Nếu trí nhớ không có thể được phục hồi thì những triệu chứng liên quan đến bệnh có thể được điều trị có hiệu quả. Thí dụ chứng trầm cảm và chứng mất ngủ thường đi kèm với bệnh có thể được giảm nhẹ nhờ dùng các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng (tricyclic antidepression) là loại thuốc không gây bơ phò“ như những thuốc chống trầm cảm mới. Các chứng ảo giác có thể được ngăn chặn hoàn toàn nhờ dùng liều cực nhỏ các chất chống loạn thần kinh (antipsychoyic agents) như haloperidol, tên thường mại là Haldol hay thioriduzin, tên thương mại là Mellaril.

Chúng quên do mạch bay do nhiều chủng nhồi máu. Chứng quên do nhiều chứng nhồi máu xảy ra khi vài cơn đột quỵ nhỏ làm cản trở hoặc suy giảm dòng chảy của máu tới những vùng của não (xem thêm ở chương mười bốn). Việc mất sự cung cấp máu này dẫn đến sự suy vi của mô não và tiếp theo mất chức năng nhận thức. Những triệu chứng ban đầu gồmchứng liệt tạm thời (temporary paralisis) và khó phát âm. Những nguyên nhân chính gây các đột quỵ là chứng xơ vữa động mạch ( các động mạch bị nghẽn do những chất lắng đọng mỡ, hay những mảng), huyết áp cao, và bệnh tim. Những tình trạng này xảy ra ở chính chúng hoặc như một kết quả thứ cấp của các bệnh như bệnh đái tháo đường, hay những lối sống như việc hút thuốc, và chứng béo phì.

Đứng sau bệnh Alzheimer, bệnh mạch não (cerebrovascular discase) là nguyên nhân thường gặp nhất của chứng quên. Chứng quên do nhiều chứng nhồi máu thường ít gặp ở nam giới hơn phụ nữ và thường xảy ra nhiều nhất ở khoảng tuổi từ 60 đến 75. Không phải tất cả các đột quỵ đều dẫn đến chứng quên; nó tùy thuộc vào vùng nào là vùng thuộc chức năng nhận thức của não bị ảnh hưởng.

Bệnh Alzheimer không thể ngăn chặn được nhưng các đột quỵ có thể làm giảm nhẹ. Hãy bản với bác sĩ nếu bạn có nguy cơ bị đột quỵ, và hãy thay đổi lối sống cho phù hợp: ngừng hút thuốc, hạn chế chứng cao huyết áp nếu có, thay đổi chế độ ăn uống bằng cách giảm những thực phẩm cao calo, chất béo bão hòa, và ăn nhiều rau trái.

Nghiên cứu gần đây đưa ra nhiều hy vọng nhờ việc đào nghịch dòng chảy của máu trong vùng nào ở mà đột quỵ xảy ra. Bác sĩ có thể giữ cho phần não ấy tiếp tục được nuôi dưỡng và làm ta… cục nghẽn, tránh và giảm thiểu sự tổn hại não, sớm giải quyết những dấu hiệu của đột quỵ. Điều này tùy thuộc vào việc bạn sớm nhận ra vấn đề để điều trị. Cả khi đột quỵ mới qua khỏi vài phút hay vài giờ, bạn cũng nên trao đổi với bác sĩ sớm để loại trừ hoặc xem xét nó hay chứng bệnh nghiêm trọng khác.

Nội dung liên quan đến tuổi già:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét