Chứng ỉa chảy ở trẻ nhỏ

Trẻ bú mẹ thường ĩa phân ướt, nhưng phân của các chứng ĩa chảy thường khác, để nhận ra. Phân này thường lỏng, đôi khi có chứa chất nhầy, và thường xảy ra thường xuyên hơn nhiều, lượng phân thải ra cũng nhiều hơn. Nguyên nhân gây ĩa chảy ở trẻ thường do viêm nhiễm (vi khuẩn, virus, hay kí sinh trùng) và do các vấn để về chế độ ăn uống, như dùng quá nhiều nước trái cây. Chữa chứng ĩa chảy cho trẻ cũng thường dùng kháng sinh.

Trẻ bú sữa mẹ thường ít bị ỉa chảy hơn vì những chất trong sữa mẹ giúp bảo vệ bé chống lại chứng ì’a chảy do viêm nhiễm.

Muốn tránh cho bé giảm bị ỉa chảy, bạn. luôn nhớ rửa tay sạch sau mỗi lần thay tã lót cho bé hoặc sau khi bạn đi vệ sinh. Bạn cũng nên lưu ý tất cả các loại thực phẩm cho bé ăn, tránh những thực phẩm đã bị ôi. Nếu bé đang dùng kháng sinh để trị bệnh, bạn có thể hỏi bác sĩ xem bé có dùng được sữa chua có cấy acidophilus sống, có thể ngăn chặn chứng ĩa chảy.

Ỉa chảy có thể kéo dài vài giờ hay vài ngày. Khi bé bị ỉa chảy, bạn nên thay tả cho bé thường xuyên để tránh bị phát ban. Cho bé uống nước nhiều để tránh tình tgỉíng mất nước bằng cách thêm nước vào sữa cho bé. Đừng cho bé uống nước thường lúc bé ĩa chảy (xem Liệu pháp bồi hoàn nước điện giải dùng để uống ở chương 9). Sự mất nước còn nguy hiểm hơn chính chứng ĩa chảy. Mất nước xảy ra vài giờ sau khi bé bị ĩạ chảy. Nếu bạn thấy bé không còn thường đi tiểu, tả của bé khô trên 8 tiếng, và bé khóc nhưng không thấy có nước mắt, bạn cần gọi bác sĩ. Trường hợp mất nước nghiêm trọng bé cần nắm việc để được tiếp nước.

Đừng cố chữa bệnh ỉa chảy của bé mà không có sự hướng dẫn của bác sĩ. Và nhất là đừng bao giờ cho bé uống thuốc chống ĩa chảy nếu bác sĩ chưa chỉ định.

Nội dung liên quan đến trẻ nhỏ:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét