Những khuyết tật tim bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Những bất thường về tim hay các mach máu gần tim được gọi là bẩm sinh mà lúc sinh nó đã có sẵn ở đó. Tỉ lệ các trẻ sinh ra mắc các chứng này khoảng 1%. Người ta chưa biết hết nguyên nhân sinh ra những khuyết tật tim bẩm sinh này, mặc dù người ta nghĩ rằng những bệnh do virus như sởi Đức bị nhiễm bởi người mẹ lúc mang thai là một trong những nhân tố góp phần vào. Việc sử dụng các loai thuốc gây nghiện và tượu lúc mang thai cũng làm tăng nguy cơ. Sau đây là những khuyết tật tim bẩm sinh chính yếu:

Những khuyết tật về vách ngăn (sep- tal defects) Đôi khi, vách ngăn của cơ tim (septum) chia tim thành hai ngán phải, trái phát triển không hoàn hảo tao ra một lỗ nhỏ hay cửa sổ nhỏ. Khi điều này xảy ra giữa hai tâm nhĩ (atrium) được gọi là khuyết tật vách tâm nhĩ; còn khi năm ở giữa hai tâm thất (ventricle) được gọi là khuyết tật vách tâm thất. Lỗ này khiến cho máu chảy khác thường giữa hai tâm nhĩ hoặc hai tâm thất khi các cơ tim co bóp, lúc đầy máu tới hai lá phổi hoặc khi giảm co thắt các buồng, khiến máu đấy đi có oxy và máu trở về không có oxy trộn lẫn nhau. Những khuyết tật vách thường tao ra những tiếng thổi rầm rì ở tim, nhưng không hẳn tất cả những tiếng thổi rầm rì ở tim đều đã là do tim có khuyết tật vách.

Nếu khuyết tật ấy năm ở các buồng trên (tâm nhĩ) hoặc là một lỗ nhỏ ở hai buồng tâm thất, có thể không có các triệu chứng, và dần dân chúng tự đóng kín (khoảng 30 đến 70% trường hợp) hoặc không đáng kể. Nhưng nếu khuyết tật giữa hai tâm thất lớn, nó có thể gây những khó khăn trong vài tuần đầu, kể cả những triệu chứng của chứng suy tim như sự cảm ứng, khó cho bú, và những vấn để về hô hấp, viêm phổi...

Việc điều trị chứng này tùy thuộc độ lớn và độ trầm trọng của các triệu chứng mà nó gây ra. Có khi bác sĩ cho dùng các loại thuốc cải thiện việc thực hiện chức năng của tim sau khi phẫu thuật để bít kín lỗ bằng cách vá. Lí tưởng là việc điều trị vách tâm thất được tiến hành trước khi bé được 2 tuổi, còn vách tâm nhĩ khi bé được 3 đến 6 tuổi.

Những khuyết tật tim bẩm sinh ở trẻ nhỏ là gì?
Những khuyết tật tim bẩm sinh ở trẻ nhỏ là gì?

Tứ chứng Fallot (tetralogy of Fallot) Một dạng bệnh tim bẩm sinh bao gồm bị nghẹt động mạch phổi,` sự chuyển đời của động mạch chủ về phía phải của tim, lớn tâm thất phải, và có lỗ lớn ở vách ngăn giữa hai tâm thất. Tác động phối hợp của những bất thường này làm cho việc bơm máu đến phổi kém đi. Cứ bình thường, tâm thất phải bơm máu ít oxy tới hai lá phổi để lấy oxy cho tâm thất trái để bơm tới não và cơ thể. Máu được oxy hóa kém dẫn đến triệu chứng chính của tử chứng Fallot: trẻ bị chứng xanh tím (cycmotic/cyanosis) và thường ngồi xổm.

Việc điều trị sớm là nhằm cải thiện dòng chảy của máu tới phổi đang thiếu oxy. Cẩn phẫu thuật để và lỗ giữa hai tâm thất, giảm các chỗ tắc để động mạch phổi lưu thông, và đặt lại động mạch chủ.

Ống động mạch mở (patent ductus artc- riosus) Trước khi sinh, một mạch máu trong bào thai nối trực tiếp động mạch phối với động mạch chủ, như vậy là bỏ qua sự tuần hoàn phổi. Ống này thường đóng lại sau khi sinh. Trường hợp nó không đóng ( patent ductus arteriosus) sẽ gây ra những tiếng thổi rấm rì ở tim giống như khuyết tật vách ngăn. Ống có thể tự đóng trong vài tuần đầu, nhưng thường cần phẫu thuật trước lúc bé được 2 tuổi. Các loại thuốc như indometha- cin (một loại thuốc giảm đau cũng có tỉnh giảm viêm) và antiprostaglandin có thể thúc đẩy nó đóng lại.

Những khuyết tật tim bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Tình trạng này thường xảy ra ở những trẻ sinh ở các nơi có độ cao, trên các bé gái, và ở các bé được sinh ra do người mẹ nhiễm bệnh sởi Đức trong giai đoạn đầu lúc mang thai (đây là một trong nhiều tình trạng mà bệnh sởi Đức góp phần vào. Các sản phụ chưa tiêm phòng cẩn tiêm phòng trước khi mang thai).

Chứng bẹp động mạch phổi/động mạch chủ (Stenosis: pulmonary/aortic) Chứng hẹp (stenosis)-việc thu hẹp bất thường-của van huy mạch máu dẫn từ tim tới phổi (hẹp động mạch phổi) hoặc từ tim tới toàn co' thể (hẹp động mạch chủ) giới hạn dòng máu. Mặc dù những bất thường này là bẩm sinh, nhưng những chỗ hẹp nhỏ có thế chẳng gây ra những triệu chứng hay được phát hiện cho đến khi bác sĩ nghe thấy tiếng thổi rẩm..rì ở tim lúc kiểm tra sức khỏe định kì. Những chỗ hẹp tương đối có thể không cẩn phẫu thuật, nhưng bé vẫn cần được bác sĩ chuyên khoa tim theo dõi. Thế nhưng những chỗ hẹp nhỏ có thể chưa gây thành vấn để cho bé, nhưng khi lớn lên, có thể chúng trở thành vấn đề vì không đáp ứng được nhu cầu về việc luân chuyên máu (xem thêm phần Các Van và Lớp Lót Tim ở chương hai mươi). Chỗ hẹp nặng có thể gây tắt thở, cấn phẫu thuật để điều chỉnh sớm bao nhiêu có thể.

Hẹp động mạch chủ (Coarctation of aorta) hẹp động mạch chủ có thể không thấy rõ cho đến khi bé bước vào tuổi thiếu niên hoặc khi đã trưởng thành, hoặc hiện diện cũng chứng cao huyết áp.

Nếu bị nặng khi còn nhỏ, thì ngay lúc sinh đã có những triệu chứng. Hẹp động mạch chủ gây cho cơ tim quả căng thẳng và có thể bị ngất xỉu. Những trường hợp nặng cẩn phẫu thuật (tốt nhất là trước 5 tuổi) để cắt bỏ chỗ hẹp.

Đảo vị huyết quản (transposition of great ves- sels) Hai động mạch chính của tim làm nhiệm vụ nghịch đảo nhau. Bình thường thì động mạch phổi mang máu kém oxy hóa từ bên phải của tim tới hai lá phổi, và động mạch chủ mang máu mới được oxy hóa từ bên trái của tim tới toàn cơ thể. Rất hiếm khi có trường hợp đảo vị, tình trạng đưa máu tới cơ thể mà không qua phổi để nhận oxy và thải cacbon đioxyt. Lúc ấy da của bé biến thành xanh (chứng xanh tím) vì thiếu oxy. Trường hợp này cần được chữa trị ngay và phẫu thuật cấp cứu để phục hồi những huyết quản đúng vị trí của chúng.

Nội dung liên quan đến trẻ nhỏ:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét