Những rối loạn thần kinh trung ương bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Hệ thần kinh trung ương bao gồm não và tủy sống. Nó điều hành các suy nghĩ và các hành động. Cấu trúc và việc thực hiện chức năng chính xác của hệ thần kinh trung ương là một điều quyết định cho việc phát triển bình thường và tạo ra những khả năng.

Chứng liệt não (cerebral palsy) là một rối loạn về vận động và dáng bộ thường gặp nhất ở trẻ. Nó xảy ra vì một bất thường của hệ thần kinh trung ương và vì sự chấn thương hay tổn thương đối với não chưa trưởng thành. Cứ 500 trẻ có 1 trẻ bị chứng liệt não và phần lớn là nghiệm trọng. Chứng liệt não có thể không rõ ràng lúc sinh và không được chẩn đoán mãi tới khi thần kinh vận động bị cản trở đáng kể, khoảng giữa 6 và 18 tháng. Việc chẩn đoán này được thực hiện trên sự kiểm tra tâm lí. Những 'kiểm tra bằng chụp hình cắt lớp (computed tomography- CT) và chụp hình cộng hưởng từ (magnetic reso- nance imaging-MRI) có thể giúp định rõ những bất thường về cấu trúc và xác định thời gian của chứng liệt não.

Bệnh liệt não thường để lại những di chứng lớn
Bệnh liệt não thường để lại những di chứng lớn

Thật hiếm có thể đồng nhất hóa một nguyên nhân đơn thuần và chính xác về chứng liệt não. Nó có thể do chấn thương lúc sinh, xuất huyết, thiếu oxy trước khi sinh, viêm màng não, nhiễm virus, hoặc sự phát triển sai lạc. Nhưng những nhân tố lúc sinh được coi là có liên quan đến chứng liệt não lại thường không thuộc quan hệ nhân quả.

Khi lớn lên, những trẻ mắc chứng liệt não biểu lộ những mức độ hư hỏng khác nhau về việc điều hành của hệ thần kinh trung ương trên các cơ chủ động (voluntary muscles). Đôi khi những hậu quả này nhẹ, chẳng hạn chỉ biểu hiện thiếu phối hợp khi chạy. Đôi khi những hậu quả lại nghiêm trọng, dẫn đến chứng liệt (paralysis) hoặc chứng co cứng cơ chính (major muscle spas- ticity). Điều này lần lượt dẫn đến sự thiếu phối hợp của nhóm cơ đối lập trên bộ xương đang phát triển. Sự lôi kéo thiếu phối hợp có thể làm gia tăng sự dị dạng về xương, làm trật khớp, hay sự co cứng, và thường, làm vẹo xương sống.

Chứng liệt não có thể tự biểu hiện ở những loại bất thường về dây thần kinh vận động nào đó. Chứng bản thân bất toại (hemiplegia) ảnh hưởng nửa thân mình, cắt tay và thường là chấn nhiều hơn. Chứng liệt hai bên (diplegia), thường liên quan đến sự đẻ non, làm liệt hai chân nhưng ít ở tay. Chứng liệt tứ chi (quađriplegia) ảnh hưởng tứ chi. Sự bất lực dây thần kinh vận động ở trẻ em còn ảnh hưởng đến khả năng nói, nuốt, và thở.

Chứng liệt não được xác định bởi sự bất lực dây thần kinh vận động, nhưng nó liên quan đến những vấn đề về não. Những vấn đề liên quan đến thị giác (nhất là tật lúc mất (stabismusD, mất khả năng nghe, những khả năng học hành, những rối loạn ngôn ngữ, những vấn đề về không gian và sự chậm phát triển trí tuệ là những chứng, mặc dầu không luôn như vậy, nhưng thường thấy ở những trẻ bị liệt não.

Không có cách chữa lành chứng liệt não: vấn đề về não không thể sửa chữa được. Nhưng có thể có nhiều cách làm giảm những thiếu sót dây thần kinh vận động nảy sinh do sự thương tổn não. Những bất thường về tiếng nói có thể được giải quyết bằng liệu pháp vật lí (physical thempy), việc tăng cưòng sức lực và việc định vị, các dược phẩm, những phong bế thần kinh (newe block), hoặc thuật chỉnh hình (orthopedic) hay khoa phẫu thuật thần kinh (neurosurgery). Sự phá vỡ nhiều vấn đề dây thần kinh vận động có thể như một kết quả của cuộc cách mạng đang tiến hành trong lĩnh vực điện tử và máy tính.

Đóng vai trò là người bảo hộ và người chăm sóc, bạn sẽ đương đầu với một phương án điều trị liên tục. Việc điều trị sớm sẽ tập trung vào việc cải thiện thần kinh vận động, nhưng vào những năm trước tuổi đến trường, là việc cải thiện những khả năng thông tri. Khi con bạn lớn lên, việc học hành và thích ứng xã hội sẽ được quan tâm.

Bệnh tràn dịch não (hydrocephalus) Đó là tình trạng tăng bất thường dịch não tủy (cere- brospinal fluid-CSF) trong các não thất. Lúc còn bé, trước khi các khớp sọ liền lại, tràn dịch não làm cho đầu bé lớn ra, khác với người lớn có hộp sọ đã ổn định, tràn dịch não làm tăng áp suất nội sọ (intrztcrạniạl pressure) gãy buồn ngủ và nôn mửa. Tràn dịch não có thể do tắc dòng chảy của dịch não tủy ra khỏi các não thất hay do không tái hấp thu được dịch não. Tràn dịch não thường kết hợp với tật nút đốt sống (spina bifida).

Để làm giảm dịch dư ra, cách tốt nhất và mang lại hiệu quả nhất là phẫu thuật để đặt một ống dẫn lưu vĩnh viễn-được gọi là ống dẫn (shunt)- trong đầu của bé. Sau đó bác sĩ phẫu thuật đưa một ống thông dài, mảnh, mềm năm dưới da, đầu ống dẫn vào khoang bụng để tiêu địch tại đây. Nếu không được giúp bằng cách đó, trên phân nửa số trẻ mắc bệnh tràn địch não sẽ chết, nhưng nếu được phẫu thuật, trên 70% trẻ còn sống và phát triển bình thường.

Tật nút đốt sống (spina bifida) Tật này được hình thành sớm lúc mang thai. Đến lúc sinh, nó được khoanh vùng đầy đủ như thường bên dưới da trong phạm vi những lớp mô bao bọc mềm (những màng não) và các xương của sống lưng. Cứ 1.000 trẻ được sinh ra có từ 1 đến 5 chưa thể phát hiện được vì khe nút này còn bị che khuất bởi một vết bớt hay búi lông như ngẫm chỉ một vấn để bên dưới. Hoặc khuyết tật ấy có thể đủ lớn mà phần tủy sống và những chỗ che của nó nhỏ m-đưọ'c gọi là thoát vị màng não tủy sống (myelomeningocele)-dẫn đến những vấn đề khác nhau từ việc yếu và liệt co’ chỉ cho đến những vấn đề kiểm soát việc tiêu, tiểu (xem hình màu trung C-33). Phần lớn khuyết tật này thường thấy ở phần lưng dưới, nhưng nó có thể xuất hiện ở bất cứ chỗ nào dọc theo tủy sống. Chỗ ấy càng cao thì vấn đề cùng nguy hiểm và phức tạp, nhưng may là những trường hợp này thật hiếm hoi.

Tật nứt đốt sống thường xảy ra ở bé gái nhiều hơn bé trai, có xu hướng di truyền, liên quan đến người mẹ lúc mang thai bị sốt cao hoặc thiếu một số vitamin, nhất là acid folic. Những dược phẩm sử dụng lúc mang thai cũng làm tăng nguy cơ bị tật nứt đốt sống, đáng chú ý là clomiphen (thuốc kích thích sự sinh sản) và acid valproic (uống để kiềm chế những cơn động kinh). Nếu bác sĩ nghi ngờ bị nứt đốt sống, bác sĩ có thể cho kiểm tra bằng siêu âm và những xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để xác định rối loạn này từ lúc bé còn trong bụng mẹ. Xét nghiệm được thực hiện lúc thai được 3 đến 4 thăng bằng máu của người mẹ hoặc dịch ối bao bọc bé dò tìm một chất đạm được gọi là alpha-fetoprotin, có số lượng cao chỉ khi nào dịch não tủy rò rỉ từ khuyết tật ấy.

Những tiến bộ trong khoa phẫu thuật thần kinh (neurosurgery), khoa phẫu thuật tiết niệu (urologic surgery), và khoa chỉnh hình (orthopcdic) cùng việc chăm sóc y khoa có thể giúp các bé bị tật nứt đốt sống sống sót, phát triển bình thường và sống tương đối lâu. Nhiều nhân tố ảnh hưởng khả năng của một trong những mục đích quan trọng nhất, việc đi lại. Những nhân tố này bao gồm hoặc là có những bất thường về bộ xương, như trật hông, dị dụng bàn chân, hoặc chứng vẹo xương sống (scoliosis) tất cả những loại này xảy ra hoàn toàn bình thường và cẩn phẫu thuật để điều chỉnh; khe nứt năm cao ra sao; cũng như mức độ thúc đẩy và hợp tác của gia đình. Việc chăm sóc tích cực và sớm của khoa chính hình-nhất là liệu pháp vật lí để củng cố các cơ từ đầu (quadriceps muscles) của đùi và làm cho hai chân vững chắc sẽ làm cho bé đi được.

Đa phần các trẻ bị tật nứt đốt sống còn chịu những bất thường về đường tiết niệu và bàng quang khiến chúng có khả năng bị viêm nhiễm và không làm chủ được việc tiết nước tiểu (incontinence). Thường cần đánh giả thường xuyên về đường tiết niệu. Việc kiểm soát bàng quang tốt hơn bao gồm việc sử dụng que thông để dẫn nước tiểu hoặc các dược phẩm cải thiện trương lực của bàng quang. Còn những lí do chưa rõ vì sao trẻ bị nứt đốt sống lại ngày cũng dị ứng với nhựa mủ (latex), có thể vì chúng tiếp cận thường xuyên với ống thông tiểu và những găng tay vô trùng của những người chăm sóc chúng.


Túy sống có thể nhỏ ra bất thường áp vào hay qua da, dẫn đến yếu và liệt hai chi dưới và những vấn để về tiêu, tiểu. Cẩn xét nghiệm để xác định rối loạn này trước khi sinh. Điều trị bằng phẫu thuật và thuốc.

Nội dung liên quan đến trẻ nhỏ:


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét