Rối loạn tiết niệu và dạ dày ruột bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Bệnh thận ứ nước (hydronephrosis) Thận của bào thai bắt đầu hoạt động để sản sinh nước tiểu trước khi sinh. Sau khi sinh xảy ra tình trạng nước tiểu chảy vào các ống tập hợp của thận, xuống các niệu quân (ureter), đi vào bàng quang, và thoát ra niệu đạo (urethra). Trước khi sinh, nó tháo hết vào dịch ối. Bất cứ sự tắc nghẽn nào đều sinh ra ứ nước ở thận: nước tiểu đi ngược lên do áp lực làm đầy trần và nong các niệu quân và thận ra. Áp lực này có thể làm thận tổn thương vĩnh viễn.

Siêu âm khi bé còn năm trong bụng mẹ có thể phát hiện chứng ứ nước thận. Vì các sản phụ thường siêu âm trước khi sinh nên tình trạng ứ nước này thường được chẩn đoán trước khi sinh. Nếu phát hiện ra chỗ phong bế này, bác sĩ sẽ kiểm tra thêm xem niệu quân và thận có bị sưng không.

Cũng có khi tình trạng này không được tìm ra cho tới sau khi sinh, lúc bác sĩ khám thấy hoặc do bé có các vấn để về tiểu tiện hoặc viêm đường tiệt niệu, lúc ấy cẩn phẫu thuật (thường gây ra do chỗ nối các niệu quân với thận hoặc chỗ nối các niệu quân và bàng quang bị thắt) để giảm bớt tình trạng nghẽn nhằm ngăn chặn tình trạng thận tiếp tục bị tổn hại.

Hẹp môn vị (pyloric stenosis) Hẹp môn vị-phần đáy của dạ dày thoát ra ruột non (small intestine)- bé trai mắc chứng này cao gấp 5 lần bé gái. Chỗ thắt (có thể do một khối u nhỏ) này làm nghẽn đường đi của thực phẩm từ dạ dày. Triệu chứng đầu tiên-ói mạnh ngay sau khi bú-thường bắt đầu vào tuần thứ hai hay thứ ba. Cứ thể, đủ có đôi để bú tiếp, bé vẫn giảm cân và mất nước.

Bác sĩ cần chẩn đoán lúc và loại thực phẩm nôn ra. Việc siêu âm và chụp X- quang đường dạ dày-ruột có thể khẳng định sự nghi ngờ hẹp môn vị của bác sĩ. Chứng này cần phẫu thuật để nong môn vị.

Rối loạn tiết niệu và dạ dày ruột bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Hẹp thực quản và một ( esophageul and intestinal atresia) Nó có thể xảy ra bất cứ chỗ nào đọc theo đường dạ dày- ruột. Cứ khoảng 4.500 trẻ có 1 trẻ bị hẹp thực quản-ống thực phẩm nổi miệng với dạ dày, do một đoạn nào đó không phát triển đầy đủ gây gián đoạn phần trên và phần dưới thực quản. Khuyết điểm này xảy ra cùng với những bất thường của khí quân (trachea), hay của tim, đường tiết niệu, và hệ thần kinh. Chứng này thấy rõ ràng khi trẻ khó nuốt nước miếng, sữa, thực phẩm, thường bị ho và mắc nghẹn. Cần phẫu thuật để khôi phục. Nếu vì lí do gì mà phải phẫu thuật trễ, bác sĩ phẫu thuật sẽ đặt một ống trên thành bụng để đưa thực phẩm trực tiếp vào dạ dày.

Hẹp ruột thường xảy ra hơn hẹp thực quản, cứ 1.500 em có 1 em bị hẹp ruột. Các triệu chứng bao gồm nôn mửa và bụng phồng lên. Nếu chỗ hẹp tác hoàn toàn, bé không đi đại tiện được ngay sau khi sinh vài ngày. Chụp X-quang sau khi cho bú là có thể khẳng định được chứng này. Trường hợp nặng cần phẫu thuật để cắt chỗ hẹp đó đi.

Rối loạn tiết niệu và dạ dày ruột bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Hẹp ống dẫn một (bile duct atresia) Rất hiếm khi xảy ra (45.000 trẻ mới có 1 trẻ bị). Đó là tình trạng ống dẫn mật đi từ gan, nơi sản sinh ra nó, tới túi mật và một bị hẹp. Tình trạng tắc mật này có thể làm gan tẩy lên, sinh ra chứng vàng da (jaundice) và những triệu chứng khác như viêm gan (hepatitis) sau khi sinh (xem thêm chương hai ba). Vì những sắc tố ở mật nhuốm vào phân nên phân không còn màu vàng như thường lệ. Gan sưng nên cũng làm bụng cũng phồng lên.

Phẫu thuật thăm đó để xác định chỗ chưa phát triển thường là điều cần thiết. Thường phẫu thuật có thể điều chỉnh chỗ hẹp, nhưng thường không phải chỉ có một điểm hẹp. Bác sĩ phẫu thuật nỗ lực cải thiện việc dẫn lưu mật bằng thủ thuật mở thông tĩnh mạch của của gan ('hepatoportoenterostomy)-nên thực hiện tốt nhất trong ba tháng đầu sau khi sinh. 75% trẻ bị hẹp ống dẫn mật tiếp tục phát triển bệnh xơ gan (cirrhosis), và chỉ còn cách ghép gan mới mong khỏi chết vì suy gan.

Bệnh Hirscbsprung (Hirschsprung’s disease) Một tình trạng bẩm sinh có trực tràng (rectum), và đôi khi cả phần đại tràng/ruột già (colon/lurge intestine) dưới không phát triển được một mạng thần kinh/những hạch thần kinh (newe net- work/newe ganglions) bình thường. Phần bị ảnh hưởng không giãn ra hay chuyển các chất chứa trong một (phân) nên các chất này sẽ tích tụ lại và làm cũng phần đại tràng trên. Các triệu chứng thường thấy rỏ.trong tuần đầu tiên sau khi sinh, gồm đau bụng và sưng, táo bón nghiêm trọng hay hoàn toàn. Chẩn đoán băng X-quang và xét nghiệm dưới kính hiển vi các mẫu thành một cho thấy không có các tế bào thần kinh. Chữa trị bằng cách cắt bỏ đoạn bị ảnh hưởng và nối đại tràng còn lại với hậu môn.

Tật tọt hậu môn (imperforate anus) là tình trạng tắc hậu môn toàn phần hay một phần do hậu môn không phát triển bình thường trong phôi, phát hiện khi sinh ra. Có nhiều loại hậu môn không thủng lỗ khác nhau gồm hẹp hậu môn do phát triển, màng hậu `môn chắc, và hậu môn bị che kín (do các nếp gấp sinh dục dính lại với nhau). Cần phẫu thuật tái tạo hậu môn. Nhưng trước tiên cần tạo một lỗ tạm thời qủa thành bụng-phẫu thuật làm hậu môn giả (colostomy)- để phân thải ra vào bịch ni lon. Sau 6 đến 12 tháng phẫu thuật lần hai để nối đại tràng với hậu môn và phục hồi chức năng bình thường.

Thoát vị cơ hoành (daphragmatic hemia) CƠ hoành, một cơ mạnh có hình như nan quạt chia khoang ngực khỏi khoang bụng đôi khi phát triển không bình thường nên có lỗ hay chỗ rách khiến những thứ chứa trong bụng (như ruột) có thể trồi lên khoang ngực. Khi xảy ra điều này, phần không gian của tim và phối bị ép làm phổi không phát triển đầy đủ. Chứng này thấy ở những trẻ khó thở sau khi sinh. Những trường hợp nguy kịch cần phải mổ ngay để tránh cho phổi khỏi bị ép và oxy hóa máu, phục hồi cơ hoành.

Rối loạn tiết niệu và dạ dày ruột bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Có những trường hợp khuyết điểm này không lớn, sự phát triển và thực hiện chức năng của tim và phối không bị tổn hại đâm ra khó phát hiện. Có thể sau nhiều tháng, khi có những tn'ệu chứng như nôn mửa, táo bón, và đau bụng sau khi ăn, lúc đó mới biết. Chụp X-quang sẽ thấy phần ruột năm trong khoang bụng.

Nội dung liên quan đến trẻ nhỏ:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét